Home
About Us
Masso Consulting
Masso Communication
Masso PR
Our work

News & Articles
Press Room
Masso Blog

Masso Quarterly
Comming Events
Career
 
Web Links
Contact Us

Statistics

Members: 3038
News: 4897
Web Links: 5
We have 1 guest online

Syndicate




Trang chính arrow Tin & bài viết hay arrow Tea-break arrow Những câu thường nói...
Những câu thường nói... PDF Print E-mail
Written by Webmaster   
Friday, 06 April 2007
 BusinessWeek số ra tuần này mở đầu một bài với câu: “Give it up for NBC Universal and News Corp., because in late March the two old-media titans made the biggest splash for a nonexistent product since the iPhone”. Khoan chú ý đến phần sau của câu này (ý nói hai gã khổng lồ trong làng truyền thông kiểu cũ làm rùm beng về một sản phẩm chưa hề tồn tại chẳng kém gì vụ rùm beng về chiếc điện thoại iPhone mới đây). Phần đầu câu có cụm từ “give it up for” có nghĩa là... hoan hô, rất đáng chú ý.    Những câu thường nói như “Xin cho một tràng pháo tay, chào đón...” nên ghi ra để khi cần có sẵn mà dùng. Ngoài cụm từ trên, người ta cũng có thể nói: “Give a big hand to”- Let’s give a big hand to our guest speaker tonight, Mr. XZY. Để thay đổi không khí cũng có thể nói: “Let’s put our hands together for...”. Còn để giới thiệu một diễn giả, người ta thường nói: “Please join me in welcoming...”; “Please help me welcome...”. Còn muốn cho hoành tráng, có thể bắt chước mấy MC chuyên nghiệp: “H - e - r - e 's Johnny!”; “Ladies and Gentlemen, I present to you (ngưng một chút) MS. CATHERINE STONE”. **   *Đầu tuần này có ngày Cá tháng Tư (April Fool’s Day), nhân đó nhiều báo đăng lại các vụ nói dối nổi tiếng nhân ngày 1-4 hàng năm. Một vụ điển hình: “In 1957, a BBC television show announced that thanks to a mild winter and the virtual elimination of the spaghetti weevil, Swiss farmers were enjoying a bumper spaghetti crop. Footage of Swiss farmers pulling strands of spaghetti from trees prompted a barrage of calls from people wanting to know how to grow their own spaghetti at home”. Trong các câu này, chú ý các cụm từ thường dùng như “a bumper crop” (một vụ mùa bội thu); “a barrage of calls” (hàng loạt các cú điện thoại). Còn footage là các đoạn phim.  BBC vừa có bài báo điểm lại truyền thống Cá tháng Tư, cho biết vụ spaghetti mọc trên cây này được nhiều người xếp hạng nhất: “The hoax repeatedly tops lists of April Fool’s gags, which typically include the one about moving Stonehenge to the base of Mount Fuji in Japan, plans to make the whole M25 run clockwise and anti-clockwise on alternate days, the internet being shut down for cleaning for 24 hours, whistling carrots, left-handed hamburgers and Big Ben going digital”. Như thế người ta đã từng nói đùa về việc dời di tích Stonehenge sang chân núi Phú Sĩ, kế hoạch cho xe cộ trên xa lộ M25 chạy theo chiều kim đồng hồ ngày chẵn và ngược chiều kim đồng hồ vào ngày lẻ, tạm ngưng Internet trong 24 tiếng để dọn dẹp, loại cà rốt khi nấu phát ra tiếng huýt sáo, bánh mì kẹp thịt dành cho người thuận tay trái và đồng hồ Big Ben chuyển sang kỹ thuật số.**   *Trong đợt sụt giá chứng khoán ở thị trường nhiều nước vừa rồi, người ta thường đỗ lỗi cho thị trường cho vay mua nhà ở Mỹ với những tít báo như: “Mortgage market trouble generates stock sell-off”. Vay tiền để mua nhà là chuyện thường thấy; bên cạnh đó, có người thế chấp nhà (chưa trả hết nợ) để vay thêm một khoản tiền nữa gọi là second mortgage. Vì thế mới có chuyện: “The number of borrowers who fell behind on payments hit a 3 1/2-year high, driven by an increase in delinquencies among high-risk, or subprime, borrowers”. Fall behind on payments là cách nói khéo chuyện đến hạn mà không trả được nợ; còn các vụ chây ỳ như thế gọi là delinquencies. Ở đây, dân tài chính Mỹ có một từ mới “subprime borrowers” - chỉ những người có tiền sử “vay không trả”, tức thuộc loại tín dụng xấu. Ngược lại những “subprime lenders” là dân cho vay liều lĩnh, sẵn sàng cấp tín dụng xấu để tính lãi suất cao.  Chẳng lạ gì, “the delinquency rate for subprime borrowers rose to 13.33 percent in the fourth quarter from 12.56 percent a year earlier”. Ở đây chú ý đến cách so sánh “cùng kỳ năm trước” - tức là so quí 4 năm này với quí 4 năm trước nhưng họ chỉ dùng gọn cụm từ “from... a year earlier”.  

Sau khi đọc đoạn trên đây, chúng ta có thể kết luận không thể dịch ngắn gọn các câu loại này khi nền kinh tế Việt Nam chưa có khái niệm tương đương. Lấy ví dụ câu này: “Subprime loans account for only about 14 percent of the total number of outstanding mortgages”, chỉ có thể tạm dịch là “Các khoản vay đầy rủi ro chỉ chiếm chừng 14% tổng số dư nợ vay tiền mua nhà” nhưng cũng không làm rõ hết ý của các từ “subprime loans” hay “mortgages”. Đó là chưa kể thị trường địa ốc ở Mỹ có những từ như ARM (adjustable rate mortgage - lãi suất thả nổi) hay FRM (fixed rate mortgage - lãi suất cố định)... Ngay cả hiểu subprime theo nghĩa quá xấu cũng không chính xác vì “subprime borrowers bet on rising home prices, which allowed them to build equity quickly and refinance their loans or sell if they needed to”. Những người này thuộc loại “liều lĩnh”, tiên đoán giá nhà sẽ tăng, như thế dù có vay ngoài khả năng trả hàng tháng cũng không sợ. Nếu cần thì bán nhà hay “đảo nợ bằng một khoản vay khác” - “refinance their loans”. Rủi thay lãi suất chưa giảm, giá nhà lại không còn tăng!   

(Theo TBKTSG)

 
< Prev   Next >
© 2008 MassoGroup