Trang chính arrow News & Articles arrow Articles arrow Kinh tế Việt Nam: Còn vô vàn khó khăn phía trước
Kinh tế Việt Nam: Còn vô vàn khó khăn phía trước PDF Print E-mail
Written by Webmaster   
Saturday, 31 May 2008
 "...Giới tiêu dùng trẻ tại Việt Nam đã nhiệt tình quảng bá phương châm sống "tiêu trước, trả sau", chạy theo những sản phẩm mới nhất của xe máy Piaggio, điện thoại di động Nokia hay quần áo hàng hiệu. Tư tưởng sống "không cần đến ngày mai" này phần nào đóng góp vào tình trạng bất ổn định của nền kinh tế ngày hôm nay...". Cho dù những điều kiện kinh tế, chính trị và an ninh tạo điều kiện thuận lợi để Việt Nam vươn mình thành con hổ châu Á tiếp theo, thì với chỉ số lạm phát không ngừng leo thang trong vòng 6 tháng trở lại đây, các nhà đầu tư đang dần tỏ ra lo ngại đối với sự ổn định vĩ mô của Việt Nam. Rõ ràng chúng ta đang ở trong một giai đoạn quan trọng của chu kì quản lý lạm phát trước khi chúng ta mất đi vị thế đã dày công gây dựng được. Đồng thời, rất nhiều biện pháp cần được dự trù để đảm bảo nền kinh tế đất nước hạ cánh an toàn và vượt qua đợt khó khăn này. 

Ngoài những dấu hiệu nóng nổi bật ở nhiều lĩnh vực, Việt Nam đã phải chứng kiến mức lạm phát nhảy vọt từ 8.6% vào tháng 8 - 2007 tới 21.4% vào tháng 4 vừa rồi.  Lương thực thực phẩm cũng tăng lên tới 34%. Nếu tình trạng trượt dốc này còn kéo dài, chẳng mấy chốc chúng ta sẽ phải đối mặt với nguy cơ thất thoát vốn. Dòng vốn ra kết hợp với những gián đoạn của việc đầu tư trực tiếp từ nước ngoài hay tiềm lực xuất khẩu, có thể cùng một lúc dội lên nền kinh tế cơn khủng hoảng thanh toán.  

Những dấu hiệu của sức ép ngày một nóng dần 

Trong ba năm trở lại đây, Việt Nam đã hưởng thụ một thời kỳ hưng thịnh với mức tăng trưởng GDP vừa cao lại ổn định, thậm chí vượt trên cả tiềm lực tăng trưởng của nền kinh tế. Bởi thế, từ năm 2005, tổng sản lượng giữ vững ở mức dương.

Từ năm 2005, tổng sản lượng giữ vững ở mức dương
 (Nguồn: CEIC, TT Nghiên cứu Kinh tế Goldman Sachs)

Có được bước nhảy vọt này là nhờ vào sự mở rộng của công nghiệp, và đặc biệt là ngành dịch vụ

Công lớn thuộc về sức phát triển vượt trội của ngành dịch vụ
Chú thích: So sánh lượng GDP theo các khu vực của nền kinh tế
_____ Khu vực thứ nhất
_____ Khu vực thứ hai
_ _ _ _Khu vực dịch vụ 
(Nguồn: CEIC, TT Nghiên cứu Kinh tế Goldman Sachs)

Điều này có nghĩa là sản lượng hàng hóa sản xuất dần dần không đáp ứng được nhu cầu ngày càng nhiều của người tiêu dùng. Cầu càng lớn hơn cung thì khoảng cách càng nới rộng. Về lâu dài, khi nền kinh tế không còn khả năng "chịu nhiệt" nữa, sức ép sẽ dồn lên nền kinh tế.

Giới tiêu dùng trẻ tại Việt Nam đã nhiệt tình quảng bá phương châm sống "tiêu trước, trả sau", chạy theo những sản phẩm mới nhất của xe máy Piaggio, điện thoại di động Nokia hay quần áo hàng hiệu. Tư tưởng sống "không cần đến ngày mai" này phần nào đóng góp vào tình trạng bất ổn định của nền kinh tế ngày hôm nay. 

Hơn nữa, những báo cáo về hiện trạng nút cổ chai cơ sở hạ tầng và một thị trường lao động gắt gao cũng là cảnh báo về những sức ép đang ngày càng tích lũy. Đường xá, cầu cảng thường xuyên tắc nghẽn đã kìm hãm năng suất của ngành vận tải.

Cùng lúc đó, việc thiếu điện đã trở thành “cơm bữa” không chỉ tại các thành phố lớn mà còn trong những khu công nghiệp – xương sống của nền kinh tế. Trong thị trường lao động, dù lợi thế dân số đem lại nguồn nhân lực dồi dào, lượng lao động lành nghề vẫn là quá ít để đáp ứng nhu cầu đang gia tăng nhanh của các hãng đầu tư. 

Một dấu hiệu nữa của nền kinh tế đang nóng là thâm hụt thương mại đang mở rộng ngày càng lớn. Trong hai năm qua, thâm hụt trong thương mại hàng hóa mỗi quý tăng từ trung bình 1.2 tỉ đô vào 2006 tới 3.1 tỉ vào 2007, và cuối cùng phồng lên tới 8.3 tỉ trong quý 1 năm 2008, tương đương tới 11.2% của GDP vào 2007 .  

Thâm hụt thương mại ngày càng lớn khi cung nội địa dâng cao
(Nguồn: CEIC, TT Nghiên cứu Kinh tế Goldman Sachs)


Ông Johnathan Pincus, nhà kinh tế học thuộc Chương trình Phát triển LHQ, nói: "Những vấn đề Việt Nam đang vấp phải nghiêm trọng hơn các nước trong khu vực bởi những quy tắc tài chính và tiền tệ từ khủng hoảng 1997 vẫn chưa hoàn toàn hồi phục". Ông cũng bày tỏ lo ngại về khả năng tài chính của Việt Nam để đối đầu với thâm hụt lớn đến vậy, làm yếu đi giá trị đồng Việt Nam. 

Lạm phát leo thang đang là bóng đen phủ lên nền kinh tế 

Người nông dân Việt Nam (Ảnh Sơn Lâm)

Tháng tới, khi những trợ cấp về nhiên liệu và các hàng hóa tối ưu khác bị cắt giảm, người ta ước tính lạm phát sẽ còn tăng tới hơn 30%. 

Liệu có phải là nghịch lí khi một đất nước có mức tăng trưởng cao đến ấn tượng lại chính là đất nước có tỉ lệ lạm phát cao nhất Đông Á. Điều này có thể lí giải được.

Đó là hậu quả sự chú trọng bất cân đối tới sự gia tăng của lượng (tỉ lệ tăng trưởng cao) và sự phát triển đồng đều của chất (chất lượng của sự tăng trưởng). Vì thế, công nhân ở vùng nông thôn cũng như ở các nhà máy có mức thu nhập cao hơn, nhưng chất lượng cuộc sống lại kém trước. Lương tăng không đủ để giúp họ chống chọi với lạm phát.

Trung bình, một công nhân nhà máy thu nhập hơn 800.000đ/tháng. Với mức lương như thế, họ không thể tồn tại được khi mà giá nhiên liệu đang tăng lên tới 30% và cao hơn thế nữa. Tháng tới, khi những trợ cấp về nhiên liệu và các hàng hóa tối ưu khác bị cắt giảm, người ta ước tính lạm phát sẽ còn tăng tới hơn 30%.

Không lâu sau những áp lực lạm phát đổ lên giá cả lương thực trong quý 2 năm 2007, chúng nhanh lan sang các lĩnh vực khác nữa. Đến cuối năm 2007, một đột biến giá mạnh của lương thực đã đẩy lạm phát CPI ở Việt Nam lên tới đỉnh điểm trong vòng 12 năm. Sau đó, giá cả tiếp tục leo từ 19% trong 12/2007 đến 35% trong 4/2008, nâng lạm phát CPI tới 21.4% trong tháng tư.

Ngược với một số nhận định rằng lạm phát tại Việt Nam là hậu quả của sốc cung và giá hàng hóa nhập khẩu tăng cao, TT Nghiên cứu Kinh tế Goldman Sachs tin rằng nguyên nhân chính là việc mở rộng tiền tệ quá mức từ năm 2007.

 

Nguyên nhân của lạm phát là sự mở rộng tiền tệ
(Nguồn: CEIC, TT Nghiên cứu Kinh tế Goldman Sachs)


Lập luận này dựa trên hai yếu tố chính. Một là, sự gia tăng đột biến của nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, khiến ngân hàng phải phát hành tín phiếu ngân hàng trung ương nhằm phần nào vô hiệu hóa tác động của dòng vốn chảy vào, nhưng vẫn còn một lượng lớn thanh khoản chưa được giải quyết. Hai là sự mở rộng khu vực ngân hàng, cùng với nó là chính sách cho vay tiền ồ ạt với mục đích gia tăng thị phần, dẫn đến hậu quả là lượng nợ chưa trả ngày càng cao. 

 

(theo Vietnamnet)

Last Updated ( Monday, 02 June 2008 )
 
< Prev   Next >
© 2008 MassoGroup