Home
About Us
Masso Consulting
Masso Communication
Masso PR
Our work

News & Articles
Press Room
Masso Blog

Masso Quarterly
Comming Events
Career
 
Web Links
Contact Us
Members: 3167
News: 5468
Web Links: 5
We have 5 guests online




Trang chính arrow Tin & bài viết hay arrow Điểm tin thị trường arrow Vào WTO: xong chúng ta sẽ làm gì?
Vào WTO: xong chúng ta sẽ làm gì? PDF Print E-mail
Written by Webmaster   
Friday, 15 August 2008

 Việt Nam mới gia nhập WTO được một năm, rất có thể cần đến những bài học kinh nghiệm thực tiễn của nền kinh tế Ấn Độ kể từ sau khi nước này gia nhập WTO năm 1995. Người ta dự đoán rằng các vòng đàm phán thương mại sắp tới của WTO sẽ thất bại. Kết quả này có thể phụ thuộc vào quan điểm cố chấp của mọi người trong việc mạo hiểm đặt cược vào một sự bứt phá nào đó. Điều đó cũng có ảnh hưởng tới những cuộc bầu cử sắp diễn ra tại Hoa Kỳ và Ấn Độ. Đối với Hoa Kỳ, giữa bối cảnh nền kinh tế đang gặp khó khăn, thì việc cắt giảm, thậm chí là loại bỏ hoàn toàn trợ cấp nông nghiệp không phải là ...

một phương án được tính đến trong năm bầu cử tổng thống.

60% dân số của Ấn Độ sống phụ thuộc vào nông nghiệp, việc sở hữu đất đai rất manh mún, vì thế một kết quả giá trị tốt đẹp sẽ chỉ là giấc mơ xa vời, còn người nông dân không thể nào bù đắp nổi cho những khoản nợ cao ngất ngưởng.

Bất kỳ biện pháp nào tác động tiêu cực thái quá đến khu vực nông nghiệp sẽ trở thành sự tự sát chính trị. Việc Brazil và Trung Quốc đều có những khung thể chế chính trị khác nhau của riêng họ để duy trì nền nông nghiệp càng làm cho tình hình trở nên căng thẳng hơn.

Dù cho tất cả những học thuyết được đưa ra trong vòng 200 năm qua có đề cập gì đi chăng nữa, thì tự do hóa thương mại cũng vẫn tồn tại những hạn chế nhất định. Suy cho cùng, đến nay chúng ta vẫn chưa thể tạo dựng được một thế giới phẳng.

Điều này liệu có đồng nghĩa với việc chấm dứt các chính sách đa phương như những chuyên gia dự báo, đồng thời là sự lên ngôi của các hiệp định song phương và khu vực? Viễn cảnh đó được kỳ vọng là sẽ không xảy ra.

Trước kia, khi chưa là thuộc địa của Anh, Ấn Độ là đất nước giàu nhất thế giới. Số của cải mà người Anh lấy đi khỏi đất nước này ước tính lên tới con số trên một ngàn tỷ đô la (theo tỷ giá hiện tại). Còn hiện giờ, cứ trong ba người Ấn Độ thì có hai người phải sống với mức thu nhập tối thiểu chỉ đủ để tiêu cho những nhu cầu cơ bản.

Sự bất bình đẳng vẫn vẫn tồn tại một cách dai dẳng. Đất đai manh mún, lại thêm sự thay đổi thất thường của thời tiết vào mùa mưa đã gây ra những khó khăn lớn cho ngành nông nghiệp. Năm trước trời có thể mưa quá nhiều gây ra ngập úng, những cánh đồng chưa kịp thu hoạch bị phá hủy, nhưng ngay năm sau mưa lại không đủ dẫn tới hạn hán.

Trước tình trạng này, vào thời điểm cuối những năm 2003 – 2004, Chính phủ Ấn Độ phải lập một kho dự trữ bình ổn lương thực. Dự đoán trong năm 2008, Ấn Độ sẽ thiếu khoảng 20 triệu tấn lương thực.

Những người theo chủ nghĩa dân túy tính toán rằng nếu bán gạo cho người dân nằm dưới ngưỡng nghèo (bản thân thuật ngữ “ngưỡng nghèo” cũng là một trò đùa độc ác) với giá trên 2 cents/ pound thì không đem lại lợi ích gì cho người nhận viện trợ, mà thay vào đó lại tạo cơ hội cho các đại lý bán lẻ thu về được một nguồn lợi khổng lồ.

Việc thiếu hụt lương thực lại góp phẩn đẩy tỷ lệ lạm phát lên tới mức độ chưa từng có – gần ngưỡng 12% - mặc dù thị phần của nông sản chỉ chiếm có chưa tới 2%.

Ngày nay, dù cho có tài hùng biện đến đâu, các nước phát triển cũng không thể che giấu được bản chất của việc trợ cấp. Ngoài ra, việc thông tin sẵn có ở mọi nơi cũng không cho phép bất kỳ nước nào cao giọng giảng giải đạo đức.

Những khoản trợ cấp kếch xù của các nước phát triển không chỉ làm cho giá nông sản thế giới sụt giảm mà còn tạo ra sức ép làm giảm giá nội địa dẫn đến tình trạng bán phá giá.

Thống kê từ những nguồn công bố rộng rãi đã chỉ ra rằng, trong giai đoạn từ năm 1995 đến 2000, các nước thành viên WTO đã dành khoảng 29,3 tỷ USD để chi cho trợ cấp xuất khẩu, trong đó EU chiếm tới 92% số trợ cấp này.

Một bản báo cáo khác gần đây cũng cho biết tình trạng bóp méo cạnh tranh thương mại vẫn không ngừng diễn ra kể từ thời điểm WTO đi vào hoạt động.

Năm 2001, giá lúa mì nội địa của Hoa Kỳ là 6,23 USD/ bushel (một giạ - đơn vị đo lường thể tích, tương đương khoảng 36 lít), trong khi giá xuất khẩu chỉ có 3,5 USD/ bushel, như vậy hai mức giá này chênh nhau khoảng 2,73 USD/ bushel.

Năm tiếp theo, mức giá nội địa là 7,24 USD/ bushel, còn giá xuất khẩu chỉ có 4,09 USD/ bushel, đã đẩy con số chênh lệch lên tới 3,15 USD. Thậm chí năm 2003, giá bông xuất khẩu (0,562 USD/pound) chỉ bằng gần một nửa giá bông bán trong nước (1,054 USD/ pound).

 

Vậy ai là người thực sự hưởng lợi từ trợ cấp xuất khẩu?

Như quy định của WTO, chính phủ được phép trợ cấp mới mục đích khuyến nông hoặc phục vụ phát triển nông nghiệp (trong đó có liên quan đến việc dự trữ, vận chuyển, chế biến, xúc tiến xuất khẩu). Trong trường hợp này, người được hưởng lợi nhiều nhất không ai khác chính là các công ty xuyên quốc gia (chứ không phải là người nông dân), bởi họ là những người trực tiếp tham gia vào toàn bộ chuỗi cung ứng, và kiểm soát tới 70% các giao dịch buôn bán lương thực trên toàn thế giới.

Cũng theo thống kê của Ủy ban Nông nghiệp Hoa Kỳ (US Department of Agriculture), trong khoảng thời gian từ 1997 đến 2002, đã có trên 90.000 nông trang với tổng diện tích gần 2000 acre (mẫu Anh, khoảng 0,4 ha) đã biến mất, cùng lúc đó là sự lớn mạnh của 3.600 nông trang với diện tích trên 2000 acre (điều này được lý giải là do tác động tiêu cực của chính sách nông nghiệp Hoa Kỳ lên người nông dân, và tạo điều kiện thuận lợi cho các nông trại sở hữu bởi những đại gia là các công ty xuyên quốc gia).

Các công ty xuyên quốc gia không những chỉ được hưởng nguồn lợi khổng lồ trong nước đổ dồn cả về phía họ, mà còn có thể thu lợi từ những đất nước đang phát triển. Ví dụ, chi phí do công ty Lương thực Nhà nước của Ấn Độ phải bỏ ra để mua một pound (khoảng 450kg) lúa mì là 8,57 cent, trong khi đó giá tại thị trường mở chỉ có 7,39 cent/ pound.

Tuy nhiên, điều làm người ta ngạc nhiên hơn cả là với cùng một loại lúa mì đó, nếu đem bán cho một công ty đa quốc gia thì chỉ thu được 4,55 cent/ pound. Sau khi thu mua, các công ty này đem về và chế biến chúng thành bột mì, rồi bán trở lại thị trường Ấn Độ với giá 21,14 cent/ pound.

Trong tổng thể bức tranh đưa ra, miếng ghép cuối cùng chưa nhắc đến là những người nông dân nghèo khổ. Xét đến cùng, khoản tiền mà họ nhận được chỉ vẻn vẹn chưa đến 5 cent cho mỗi pound lúa mì được bán ra.

Bây giờ thì bạn đọc có thể tự trả lời câu hỏi xem thực sự ai là người hưởng lợi từ các khoản trợ cấp.

 

Giải pháp nào cho những vấn đề trên?

Để giải quyết những vấn đề bất cập nêu trên, với một nước đang phát triển như Ấn Độ cần ngay lập tức thực thi các đề xuất sau:

  • Cần thiết phải tạo dựng các nông trại hợp tác để mở đường cho cuộc cách mạng xanh thứ hai, tăng năng suất lao động lên 80 - 100%. Đồng thời ngăn chặn sự tham gia của các các công ty trung gian hay đầu cơ. Việc này hoàn toàn khả thi, giống như những thành công đã đạt được trong việc sản xuất và phân phối sữa.
  • Chuyển hướng sang sản xuất các sản phẩm có giá trị cao hơn hoặc chế biến thực phẩm bởi vì thị trường tiêu thụ những sản phẩm này lớn hơn cũng như khả năng tiếp cận cao hơn.
  • Đàm phán và ký kết các Hiệp định Tự do hóa Thương mại với những quốc gia thuộc khối ASEAN và APEC.
  • Mạnh dạn nêu ra mục tiêu của những quốc gia phát triển tại các diễn đàn quốc tế, dựa trên con số và sự kiện thực tế.
  • Đàm phán thương mại song phương với các quốc gia đang phải đối mặt với tình trạng khan hiếm lương thực trầm trọng hơn Ấn Độ.

 

WTO trước mắt cần sớm giải quyết hai mâu thuẫn chủ yếu nêu dưới đây:

  • Một là sự tràn lan vô tội vạ của hàng hóa nhập khẩu vào thị trường nội địa bằng việc áp đặt các biện pháp trừng phạt lên việc sản xuất nông nghiệp trong nước, chính điều này đã gây trở ngại cho mục tiêu ổn định an ninh lương thực quốc gia.

  • Hai là sự thất bại trong việc ngăn chặn những hành vi cạnh tranh không lành mạnh đã dẫn đến hiện tượng bán phá giá.

 

theo Vietnamnet (Bài viết của B V Krishnamurthy đăng trên chuyên mục Discussion Leaders, tạp chí Harvard Bussines Online )

Last Updated ( Monday, 18 August 2008 )
 
< Prev   Next >
© 2009 MassoGroup