|
Đứng trước tình trạng thiếu giáo sư, các trường thương mại bắt đầu tự đào tạo lực lượng này. Mục tiêu nhắm tới của trường, theo tờ Financial Times, chính là các tiến sĩ trẻ thuộc chuyên ngành khoa học xã hội. Liệu có thể biến một tiến sĩ văn học Anh thành một giáo sư giảng dạy tiếp thị? Hoặc yêu cầu một giáo sư kinh tế học giảng dạy kế toán tài chính? Đối với John Fernandes, chủ tịch hiệp hội Association to Advance Collegiate Schools of Business (AACSB), câu trả lời là có. Lo lắng trước tình trạng thiếu hụt các giáo sư về quản trị kinh doanh tại các trường thương mại Mỹ, AACSB đã thiết kế một chương trình cải tiến
giúp các giáo sư của nhiều khoa khác nhau có được kỹ năng cần thiết để giảng dạy quản trị kinh doanh. Chiếc “cầu nối” này sẽ được phát động tại năm trường đại học trong mùa khai giảng này. Nó nhắm đến các giáo sư đã có một bằng tiến sĩ trong những bộ môn khoa học xã hội. “Cần nhắc lại rằng cho đến những năm 1950, không hề có chuyện đào tạo tiến sĩ quản trị kinh doanh. Các giáo viên thời đó đến từ các khoa khác”, ông John Fernandes nhấn mạnh. Số tiến sĩ về quản trị kinh doanh đã sụt giảm, trong khi số lượng đăng ký đào tạo trình độ cử nhân và thạc sĩ lại tăng. Theo một nghiên cứu mới đây, đào tạo tiến sĩ theo chuyên ngành này không có nhiều nhu cầu trong năm nay. Điều đáng lo ngại hơn là thế hệ các giáo viên thuộc thế hệ baby-boom (những người sinh ra trong khoảng thời gian từ 1946 – 1960) bắt đầu rục rịch về hưu. Việc khan hiếm đang trở thành vấn đề nghiêm trọng của các trường thương mại, vì nó có nguy cơ buộc người ta phải xem lại danh tiếng và chất lượng của trường. AACSB yêu cầu các thành viên của mình phải có ít nhất phân nửa số giờ giảng dạy do các giáo sư được đào tạo thích hợp đứng lớp. Còn lại, 40% số giờ dạy có thể do những người có “trình độ chuyên môn” nhưng chưa có bằng tiến sĩ, và 10% từ các giáo viên không thuộc hai dạng trên. Trong số các trường kinh doanh dự tính áp dụng chương trình bắc cầu này có College of Business Administration của đại học Toledo (bang Ohio), Freeman School of Business của đại học Tulan (New Orleans, bang Louisiana), Pamplin College của Virginia Tech (Blackburg, bang Virginia), Warrington College of Business của đại học Florida (tại Gainsville, Florida). Mỗi trường thiết kế chương trình riêng, có thời gian từ hai tháng đến hai năm, bao gồm các seminar, các tổ thảo luận, các môn học trên internet và các dự án nghiên cứu. Học phí từ 14.000 đến 40.000 USD và do người tham dự hoặc trường đỡ đầu chi trả. Sinh viên có thể được học bổng hoặc nhà nước cho vay. “Tôi tin rằng đây là giải pháp dài hạn để đào tạo các tiến sĩ”, chủ tịch hiệp hội nói và cũng hy vọng rằng sẽ có 200 người tốt nghiệp trong năm năm tới. Theo ông, chương trình mang tính sáng tạo về mặt tri thức lẫn tài chính. Trước tiên, nó cho phép những người đang làm luận án được thực tập chuyên ngành và chuyển từ lý thuyết sang thực hành. Tiếp đó, lương của giáo sư ở các trường thương mại cao hơn những nơi khác. “Trong khi một giáo sư toán học kiếm được 70.000 USD mỗi năm, một giáo sư giảng dạy kế toán khởi đầu sự nghiệp ở mức lương 115.000 USD. Về mặt tài chính, điều này rất kích thích. Một số khoa đào tạo các tiến sĩ dư thừa nên các đại học khó có thể tiếp nhận hết”, ông John Fernandes phân tích. Tuy nhiên, chương trình cũng có những khởi đầu chật vật hơn dự kiến. Lập luận kinh tế có thể không đủ để thúc đẩy những người tốt nghiệp các bộ môn khoa học nhân văn đầu tư vào hướng này. Nhưng thị trường lao động dành cho giới đại học đang gặp khó khăn nên chương trình có thể đóng một vai trò nào đó. “Đó là những người đã đầu tư thời giờ và tiền của vào việc chuẩn bị cho việc lấy bằng tiến sĩ, nhưng rồi họ nhận ra rằng rất khó tìm được việc trong chuyên ngành của mình vì cung vượt cầu”, ông Frank Smith, người phụ trách về quản trị và phát triển nghề nghiệp của trường Pamplin giải thích. “Khi họ phát hiện một trường thương mại có thể mở ra cho họ nhiều triển vọng trực tiếp gắn liền với lĩnh vực nghiên cứu và mang đến một sự nghiệp giảng dạy đại học tốt đẹp, họ bắt đầu xiêu lòng”. (theo SGTT) |