Trang chính arrow Tin & bài viết hay arrow David Landes: "Kẻ thù lớn nhất của thành công là thành công"
David Landes: "Kẻ thù lớn nhất của thành công là thành công" PDF Print E-mail
Written by Webmaster   
Friday, 05 September 2008
 "Câu chuyện nổi tiếng về Rockefeller cả đời chỉ có độc một bộ véc mặc đến khi sờn lại không phải là những kiểu chuyện chúng ta nghe về các CEO ngày nay...Nhưng doanh nhân mà ông miêu tả đó có tạo ra một thể chế tích cực hay không? Văn hóa đóng vai trò to lớn nhất khi ông lùi bước để nhìn vào bức tranh lịch sử rộng lớn hơn. Những gia đình biến của cải thành triều đại là rất hiếm, vì một lí do đơn giản: đó là điều cực khó. Kẻ thù lớn nhất của thành công, cuối cùng chính là thành công. Kẻ thù lớn nhất của của cải là quá nhiều của cải. Cuốn sách Dynasties (2006) của tôi nhấn mạnh rằng ..."

 

AI: Hãy cùng nói về nước Mỹ trong phạm trù thay đổi văn hóa. Những cuốn sách của ông khắc họa những chân dung của các cá nhân ông nhận định là sự hiện thân của giáo lý Tin lành, chẳng hạn như Andrew Carnegie và John D. Rockefeller. Nhưng câu chuyện nổi tiếng về Rockefeller cả đời chỉ có độc một bộ véc mặc đến khi sờn lại không phải là những kiểu chuyện chúng ta nghe về các CEO ngày nay. Họ dường như không mang trong mình đức tính khổ hạnh ấy, mà dường như trái ngược.

David Landes: Chúng ta nên nhắc nhở bản thân rằng cho dù với sự đạm bạc ngày nay, số người ném tiền qua cửa sổ vẫn nhiều hơn số người tiết kiệm tiền. Không phải tất cả người giàu đều chắt chiu đâu. Với tôi, điều khác biệt thực sự, nếu có, chính là sự ý thức về trách nhiệm đối với xã hội. Ngày nay rất nhiều vị CEO giành thời gian nghĩ cách tiêu tiền. Nhà Rockefellers và Carnegies giành thời gian tạo dựng các quỹ từ thiện và giành tài sản của họ vào những mục đích cao cả. Cho dù không phải là tất cả, nhưng rất nhiều người giàu hiện nay là nhà từ thiện.

AI: Tôi vẫn tò mò về sự liên quan giữa các đạo lí Tin lành và thành công của nước Mỹ. Nếu nhìn chung các giá trị Tin lành không còn tồn tại trong lòng giới tinh hoa của nước Mỹ, hay thậm chí trong cả tổng thể dân số, thì chúng ta sẽ không còn là một xã hội của những người da trắng, Anglo – Saxon và mang tính Tin lành nữa. Ông có nghĩ điều này sẽ ảnh hưởng xấu tới thành công kinh tế của nước Mỹ trong tương lai không?

Nếu không, điều này có chứng tỏ là các giá trị Tin lành từ đầu đã không mấy quan trọng? Ông vẫn có thể là một doanh nhân tại thung lũng Silicon, ngập chìm trong trò chơi điện tử, nghĩ giữa chừng trong giờ làm để ngồi thiền, mà vẫn kiếm ra hàng núi tiền chỉ bởi vì ông thông minh và có môi trường kinh tế tốt. Có lẽ văn hóa và đạo đức làm việc không liên quan gì tới điều đó.


David Landes: Nhưng doanh nhân mà ông miêu tả đó có tạo ra một thể chế tích cực hay không? Văn hóa đóng vai trò to lớn nhất khi ông lùi bước để nhìn vào bức tranh lịch sử rộng lớn hơn. Những gia đình biến của cải thành triều đại là rất hiếm, vì một lí do đơn giản: đó là điều cực khó. Kẻ thù lớn nhất của thành công, cuối cùng chính là thành công. Kẻ thù lớn nhất của của cải là quá nhiều của cải. Cuốn sách Dynasties (2006) của tôi nhấn mạnh rằng các gia đình học cách truyền đạt những giá trị và thói quen cho thế hệ con cháu của họ.

Phần lớn các gia đình như Barings và Morgans có cả hai dạng con cháu: Những người làm kinh doanh và làm ra tiền, song song với những người chỉ biết tiêu tiền hoặc dùng tiền vào những mục đích ngoài kinh doanh. Không có nhiều gia đình với những người đủ khôn ngoan và đức độ để khiến các thế hệ sau ngày càng giàu hơn.

AI: Điều đó khiến tôi nhớ đến một câu chuyện cũ. Một tổ chức tên là Family Firm Institute chuyên chú trọng tới các gia đình khá giả từng mời tôi đến nói chuyện tại một trong những hội nghị thường niên của họ sau khi tôi cho ra đời cuốn Trust (1995).

Tôi đã rất ngỡ ngàng khi biết được một nửa thành viên tham gia hội thảo bày tỏ lo ngại về việc tư vấn tâm lí cho thế hệ thứ 2 và thứ 3 của những doanh nhân giàu có. Câu hỏi đặt ra là làm sao để xử lí gánh nặng tâm lí của việc không đáp ứng được kì vọng của bố mẹ, hay thừa kế của cải và tiêu tốn chúng.

Rất may là con cái của tôi không phải lo về vấn đề đó, nhưng điều đó khiến tôi nghĩ rằng có lẽ việc làm người thừa kế của các ông trùm không phải là điều tuyệt vời nhất, bởi sức ép tâm lí đổ lên con cái là rất lớn.

David Landes: Vâng, sức ép quả là rất lớn. Vì thế ông có thể thấy nhiều con cái không hề chia sẻ với cha mẹ. Bộ phim Pretty Woman cho chúng ta thấy nhân vật nam chính Richard Gere thậm chí không nói chuyện với cha mình trong những năm cuối cùng của cuộc đời ông. Richard chỉ biết tin cha chết qua cáo phó đăng trên báo.

Và đề tài này không phải chỉ đến thời Hollywood mới xuất hiện. Một số người cho rằng đó là một mặt của chủ nghĩa tư bản hiện đại. Không hề. Từ thế kỉ 14, chúng ta đã có thể thấy những ví dụ như thế trong gia đình Medici.

AI: Ông viết trong một bài luận nhiều năm trước về các công ty gia đình của Pháp. Ông quan sát rằng tại Pháp, người ta có thói quen giữ tiền trong nội bộ gia đình hơn là vào tập đoàn hay để người ngoài tham gia vào.

Ở Mỹ, thường thì người ta sáng lập một công ty, ăn nên làm ra, và chỉ đến thế hệ thứ hai người ta đã công khai hóa và để một hệ thống chuyên nghiệp điều hành công ty.

Liệu đây có phải là sự khác biệt văn hóa, hay chỉ là đường lối của chính sách thuế? Liệu sức ép xã hội tại Pháp, Trung Quốc và một số gia đình sung túc Ả Rập khiến của cải tách xa gia đình có để lại hậu quả cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản tại các xã hội này hay không?

David Landes: Mô hình doanh nhân gia đình thành công của Mỹ mà ông nêu trên, tất nhiên có động cơ công khai hóa bởi đó là cách tốt nhất để phát huy tiềm năng kinh doanh của doanh nghiệp. Người ta bán cho những người có niềm tin rằng vẫn còn nhiều nhiều cơ hội mở rộng và sẵn sàng đi trên con đường đó. Những người né tránh việc chia quyền sở hữu thường tự tạo ra giới hạn cho bản thân mình, và hành động đó sẽ khiến nền kinh tế bớt năng động đi cùng với thời gian.

Nhưng luật pháp cũng tạo ra nhiều điều kiện để giữ quyền kiểm soát cho gia đình. Gia đình Wallenberg nổi tiếng của Thụy Điển vẫn nắm giữ cổ phần trong rất nhiều doanh nghiệp lớn của Thụy Điển. Họ dàn xếp chế độ cổ phần có bầu chọn và phi bầu chọn, để đảm bảo khả năng kiếm soát ngay cả đối với những cổ phần khiêm tốn nhất.

Họ vẫn có thể duy trì quyền kiểm soát mà vẫn bán được phần lớn cổ phần, thậm chí còn làm quen với các đồng minh mới có ảnh hưởng lớn để cung cấp hỗ trợ về mặt chính trị. Đó là một trong những khía cạnh quan trọng của chủ nghĩa tư bản hiện đại: Nó có thể mang lại ảnh hưởng và sự kiểm soát cho một gia đình, nhưng lại không bị coi là bóc lột. Đây là việc kinh doanh lắt léo và có vai trò rất quan trọng đối với một số nhóm tiểu số nhất định, chẳng hạn như người Do thái. Tôi vẫn chưa bàn đến những kỹ xảo của Nhật Bản.

Một trong những vấn đề các công ty gia đình vấp phải là những kỹ thuật hiện đại đòi hỏi sự có mặt của những chuyên gia kỹ thuật hàng đầu, nhằm đảm bảo chiến thắng trong việc cạnh tranh với các công ty khác. Điều này có nghĩa là họ sẽ phải mời những người quan trọng vào công việc kinh doanh, nhưng họ lại không được quyền sở hữu. Những người này có thể muốn trở thành người sở hữu công việc kinh doanh, và ghen tị với đặc quyền mà một số người có, dù không phải là thế hệ đầu tiên, cũng có khả năng truyền lại việc kinh doanh cho đời con cháu của họ.

Vì vậy người Nhật Bản sáng chế ra công cụ thu nhận việc kinh doanh. Bạn có thể để con gái mình kết hôn với một chuyên gia cần thiết, hoặc đôi lúc nhận anh ta làm con trai. Đó là một công cụ tuyệt vời, và tôi chưa thấy một quốc gia nào khác áp dụng điều này thành công đến vậy.

AI: Đúng vậy. Chúng ta khó có thể làm như vậy trong xã hội Trung Quốc.

David Landes: Vậy ông đã thấy là văn hóa làm nên điều có thể?

AI: Hãy quay lại với người Pháp một chút. Tại sao người Pháp thường ít suy nghĩ theo cách duy lí trí và dựa trên nền tảng kinh tế? Họ có nạn thất nghiệp dai dẳng, và gần đây họ tìm ra giải pháp bằng cách thực hành tuần làm việc 35 giờ.

David Landes: Trong trường hợp cụ thể này tôi nghĩ nó liên quan tới thực tế là những thiếu sót của tuần làm việc 35 giờ được bù đắp bởi trợ cấp chính phủ trong an sinh xã hội. Những vấn đề như thế này có lẽ sẽ không tồn tại ở Mỹ, bởi vì người ta sẽ nói: “Tôi phải làm việc lâu hơn vì tôi muốn kiếm nhiều tiền hơn.” Trong hệ thống thống kê của Pháp, trong một chừng mực nào đó người ta đã có đủ tiền dưới dạng hàng hóa và dịch vụ từ nhà nước. Người ta đã giành nhiều công sức để dỡ bỏ giới hạn 35 giờ, và chúng ta hãy chờ xem điều gì sẽ xảy ra.

AI: Nhưng đó sẽ là cách nghĩ phi kinh tế, với giả sử lượng công việc phải làm là cố định. Điều này mặc định độ co giãn của cung cầu là bằng không, vì vậy cách duy nhất để một người khác có công việc là nếu tôi hi sinh phần công việc của mình. Liệu có ai khác từng dạy, chưa nói đến việc thực hiện, cách suy nghĩ kinh tế này trong 200 năm trở lại đây?

David Landes: Họ cho rằng họ bồi thường cho một cái gì đó không có tính duy lí về mặt kinh tế bằng sự sáng tạo và tính căn nguyên trong thiết kế và sáng tạo sản phẩm, trong việc tạo ra sản phẩm mà nhiều người sẽ thích. Chúng có thể có giá thành quá cao bởi người ta tốn quá nhiều chi phí và sản xuất chúng một cách kém hiệu quả. Ấy vậy mà người người ở khắp nơi trên thế đổ xô đến Pháp để mua những thứ đắt cắt cổ như vậy. Phong cách dường như làm người ta say hơn say rượu. Đây là điều mà nhiều người Mỹ không nghĩ tới.

AI: Hãy để chủ đề cuối cùng của chúng ta là chủ đề về cuốn sách tôi yêu thích nhất trong những cuốn ông viết, Revolution in Time (1983) – một cuốn sách nói về những sản phẩm được đội giá thái quá.

Ông có thể sắm một chiếc đồng hồ nhiều chức năng của Patek Phillippe với giá hàng trăm ngàn đô. Nhưng cuốn Revolution in Time ra đời từ cảm hứng giành cho đồng hồ của ông, chứ không phải từ việc định giá cao, có phải không ạ?

David Landes: Điều này xảy ra hoàn toàn ngẫu nhiên. Trong quãng thời gian sống tại Pháp, và thăm thú nhiều nơi với người đồng hành yêu dấu của tôi, tôi “lây” cái tính săn hàng bán đấu giá như ong săn mật của cô ấy, và mua một số đồ vật mỗi khi có dịp.

Trong quá trình đó tôi quen biết với những người có cùng sở thích, và tất nhiên, nếu ông học về lịch sử của công nghệ, ông sẽ được biết một chút gì đó về cách người ta sáng chế các đồ vật này. Một trong những điều tôi học được là người ta có thể làm ra những chiêc đồng hồ nhỏ, cơ học có khả năng sản sinh bất cứ một vật dụng cơ học nào khác. Chính kĩ năng có thể chuyển giao về mặt khái niệm này đã tạo ra sự khác biệt lớn đối với những thành tựu của phương Tây.

AI: Trong cuốn Revolution in Time, ông kể về một câu chuyện đáng chú ý về một người Trung Quốc phát minh ra chiếc đồng hồ nước khổng lồ vào thế kỉ 13. Anh ta truyền cho con trai cách làm, nhưng không ai khác có hứng thú cả. Tới khi con trai anh ta qua đời, tri thức này cũng mất theo. Đây là một thất bại đáng tiếc trong việc tận dụng những tiến bộ công nghệ.

David Landes: Lịch sử Trung Quốc vào thời điểm đó có rất nhiều những câu chuyện như vậy. Người Trung Quốc ngày đó đã có những phát minh phi thường, nhưng không giống với phương Tây, Trung Quốc thời đó không có khái niệm cạnh tranh, vì vậy họ thường bỏ rơi và cuối cùng quên đi những phát minh đó. Ngày nay đã có những chuyên gia trong lịch sử Trung Quốc muốn chứng minh rằng Trung Quốc ngày xưa tiến bộ hơn phương Tây rất nhiều, nhưng chưa lí giải được tại sao những phát minh đáng chú ý ấy lại bị rơi vào quên lãng.

Dù trong trường hợp nào, tôi rất quan tâm đến những vấn đề như thế này bởi tôi tin rằng đồng hồ treo tường và đeo tay là những phát minh công nghệ quan trọng nhất trong lịch sử thế giới, và cũng chính là công cụ giúp châu Âu nắm bắt và tiến tới những nền văn minh mới nhanh chóng hơn.

Điều này không bắt nguồn từ việc con người muốn biết thời gian, bởi họ có thể dựa vào bất cứ một dạng thời gian tùy ý nào, mà là vì cấu trúc của tất cả máy móc đều được chứa đựng trong công nghệ của một chiếc đồng hồ.

Hơn thế nữa, công nghệ đồng hồ không những thể hiện thành tựu về mặt cơ học, mà cả thành tựu ẩn dụ về mặt khái niệm nữa, trong trường hợp này là một dạng cân bằng động lực. Đó cũng là sự khác biệt lớn lao đối với tri thức và hiểu biết. Ông thấy đấy, ngay cả việc suy nghĩ về một đồ vật do con người tạo ra có thể tác động tới hướng phát triển của văn hóa, và giúp ta quyết định cái gì sẽ đem lại của cải. Đó không phải là điều đơn giản. 



Theo Vietnamnet (Dịch từ The American Interest)

Last Updated ( Monday, 08 September 2008 )
 
< Prev   Next >
© 2008 MassoGroup