|
Theo đánh giá của Diễn đàn kinh tế thế giới, Việt Nam hiện nằm trong nhóm các quốc gia có khả năng cạnh tranh thấp. Năm 2001, Việt Nam chỉ đứng vị trí 60/70 quốc gia được xếp hạng. Đến năm 2002, tình hình tuy có khả quan hơn nhưng vị trí xếp hạng của Việt Nam vẫn là 65/80 quốc gia được xếp hạng.
|
Cạnh tranh về sản phẩm thô có thể làm gia tăng nghèo đói và khiến các quốc gia rơi vào tình trạng tụt hậu về kinh tế.
|
Mặc dù đã đạt được những tiến bộ nhất định, song năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam vẫn ở mức thấp so với thế giới và khu vực. Ông Michael Fairbanks, tiến sĩ kinh tế của ban lãnh đạo Dự án "Nâng cao năng lực cạnh tranh Việt Nam" (VNCI) nhận định: "Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, yếu tố lợi thế cơ bản để cạnh tranh là đội ngũ nhân công rẻ, nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và có xu hướng xuất khẩu những sản phẩm thô."
"Do đó, việc cạnh tranh trong những lĩnh vực xuất khẩu này rất khốc liệt và các sản phẩm hầu như không khác nhau nên các quốc gia và các công ty thường cạnh tranh nhau về giá cả", ông nói.
Động lực này là nguyên nhân cơ bản khiến giá cả thực tế của đa số các mặt hàng tiêu dùng bị sụt giảm không ngừng trong 150 năm qua. Để giữ giá thấp, các nhà sản xuất không đầu tư vào nguồn vốn nhân lực mà lại trả lương thấp đi. Do vậy, theo ông Fairbanks, cạnh tranh về sản phẩm thô có thể làm gia tăng nghèo đói và khiến các quốc gia rơi vào tình trạng tụt hậu về kinh tế.
Đánh giá về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam, ông Đoàn Duy Khương, Phó chủ tịch Phòng VCCI, cho biết hiện nay, chỉ có một số doanh nghiệp Việt Nam có khả năng cạnh tranh tốt, còn lại đa số các doanh nghiệp vẫn chưa có khả năng thâm nhập các thị trường khu vực và quốc tế.
Hơn nữa, các doanh nghiệp còn phải chịu thêm sức ép mất thị trường nội địa khi hàng rào thuế quan bảo hộ dần bị bãi bỏ. Nguyên nhân chính là do doanh nghiệp chưa xây dựng được chiến lược kinh doanh, không nghiên cứu kỹ thị trường, thêm vào đó là sự thiếu hiểu biết về khách hàng và đối thủ cạnh tranh, đặc biệt là khách hàng và đối thủ cạnh tranh nước ngoài.
Một lý do quan trọng khác nữa là chất lượng quản lý doanh nghiệp còn thấp. Vấn đề nhân sự, đào tạo, bồi dưỡng nhân lực lao động... chưa được quan tâm thoả đáng. Ngoài ra, việc chậm cổ phần hoá một số doanh nghiệp nhà nước đã dẫn đến việc chậm cải tiến hệ thống quản lý của các doanh nghiệp cũng đang góp phần hạ thấp năng lực cạnh tranh của chính doanh nghiệp đó.
Ông Fairbanks khẳng định, cần có sự hợp tác giữa nhà sản xuất và xuất khẩu để tạo ra sản phẩm không phụ thuộc vào giá cả. Các doanh nghiệp cần chuyển mục đích khai thác lợi thế từ giá cả lao động rẻ và nguồn tài nguyên phong phú, sang khai thác các lợi thế về năng suất lao động và công nghệ mới để cạnh tranh trong quá trình phát triển kinh tế.
Nhóm hàng nào của Việt Nam có khả năng cạnh tranh?
|
Ông M. Fairbanks nhận định rằng rủi ro của doanh nghiệp Việt Nam trong kinh doanh là đã quá phụ thuộc vào nguồn nhân công rẻ và tài nguyên phong phú.
|
Theo báo cáo nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW, nhóm sản phẩm được đánh giá là có năng lực cạnh tranh của Việt Nam hiện nay chủ yếu là những nông sản, khoáng sản chưa qua chế biến.
Tuy nhiên, hầu hết những ngành hàng này lại đang được Nhà nước bảo hộ. Nếu buộc phải đối mặt với cạnh tranh gay gắt sẽ dễ dẫn đến thất bại do phần lớn hàng hoá chưa có thương hiệu, kiểu dáng riêng, chưa tạo được cơ sở nguyên liệu ổn định, lâu dài nên năng suất và chất lượng cũng chưa ổn định.
Ông M. Fairbanks nhận định rằng rủi ro của doanh nghiệp Việt Nam trong kinh doanh là đã quá phụ thuộc vào nguồn nhân công rẻ và tài nguyên phong phú. Theo ông, sự phát triển kinh tế trong tương lai sẽ phụ thuộc vào nguồn vốn nhân lực tinh nhuệ và thái độ tích cực cạnh tranh, học hỏi, tin tưởng, hợp tác và đầu tư vào các yếu tố lợi thế đa dạng. |