Trang chính arrow Tin & bài viết hay arrow Điểm tin thị trường arrow Thấy gì từ cơ cấu ngành dịch vụ
Thấy gì từ cơ cấu ngành dịch vụ PDF Print E-mail
Written by Masso Group   
Thursday, 23 September 2004
Chính phủ và các nhà hoạch định chính sách vĩ mô đang rất quan tâm đến ngành dịch vụ, bởi tỷ trọng dịch vụ trong GDP đã giảm trong 8 năm liên tục, ngược với xu hướng chung của các nước trên thế giới hiện nay; bởi yêu cầu của hội nhập trong thời gian tới đòi hỏi phải mở cửa hơn nữa trong hoạt động dịch vụ...

Vậy cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu các ngành trong khu vực dịch vụ thời gian qua như thế nào?

Từ các số liệu có thể rút ra một số nhận xét đáng lưu ý. Ngành thương nghiệp (kinh doanh các sản phẩm vật chất) chiếm tỷ trọng cao nhất. Năm 2004, ngành này tăng khá cao cả ở tiêu thụ trong nước, cả ở xuất khẩu, cả về lượng, cả về giá, nên tỷ trọng trong GDP sẽ còn cao hơn nữa.

Tiêu thụ trong nước tăng thể hiện ở việc tăng lên của ngành thương nghiệp trong tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng khá cao (tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 8 tháng đầu năm tăng 18,1% so với cùng kỳ, trong đó riêng ngành thương nghiệp tăng tới 20,2%, cao hơn nhiều so với các ngành còn lại như: khách sạn nhà hàng tăng 12,7%, du lịch tăng 14,6%, dịch vụ tăng 4,5%). Lượng tăng khoảng 11,4%. Giá tăng 6,6%.

Xuất khẩu tháng 8 ước đạt 2,3 tỷ USD, cao hơn kim ngạch cả năm 1991; 8 tháng ước đạt 16,8 tỷ USD, cao hơn kim ngạch cả năm từ 2002 trở về trước và tăng tới 25,7% so với cùng kỳ năm trước. Lượng tăng có dầu thô, than đá, gạo, cà phê, hạt điều, hạt tiêu, chè... Giá tăng có dầu thô, than đá, gạo, cao su, hạt điều...

Đáng chú ý, tiêu dùng cuối cùng của dân cư được thực hiện thông qua thị trường ngày một nhiều hơn, chứng tỏ tính "tự cấp tự túc" trong sản xuất, tiêu dùng giảm, tính "hàng hoá", tính "thị trường" trong sản xuất, tiêu dùng tăng lên. Tỷ lệ giữa tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trong tổng tiêu dùng cuối cùng của dân cư, nếu năm 2000 mới đạt 75,1%, thì năm 2001 đã tăng lên đạt 78,6%, năm 2002, 2003 đã tăng lên đạt 79-80% và năm 2004 có thể còn cao hơn nữa.

Kinh doanh tài sản và dịch vụ tư vấn có tỷ trọng cao thứ hai trong các ngành dịch vụ.

Kinh doanh tài sản và dịch vụ tư vấn có tỷ trọng cao thứ hai trong các ngành dịch vụ. Đây là một ngành dịch vụ mới được phát triển trong cơ chế thị trường, nhưng sớm khẳng định được vị trí của mình.

Tuy nhiên, dịch vụ về đất đai sau khi tăng trưởng nóng vào cuối năm 2000, đầu 2001 đã rơi vào trầm lắng, nay lại đang chờ đợi hoặc tiềm ẩn những yếu tố không ổn định, thị trường này đã "chôn" vào đây một lượng vốn không nhỏ; là nơi "rửa tiền" của nhiều kẻ tham nhũng, buôn lậu; là nơi hình thành nhiều tỷ phú vào loại bậc nhất so với các loại hoạt động sản xuất kinh doanh khác; cũng là nơi tài sản Nhà nước bị lãng phí thất thoát nhiều nhất; cũng là một khoản chi phí lớn nhất của các nhà sản xuất kinh doanh (bao nhiêu lãi cũng chui vào túi của các nhà cho thuê địa điểm kinh doanh, tiền đền bù giải phóng mặt bằng trong nhiều trường hợp còn lớn hơn cả tiền đầu tư trực tiếp vào công trình...).

Ngành có tỷ trọng lớn thứ ba trong khu vực dịch vụ là vận tải, kho bãi, thông tin liên lạc. Vận tải đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu vận chuyển hàng hoá và đi lại của nhân dân. Mật độ điện thoại cố định, di động tăng nhanh và giá cả trong lĩnh vực bưu chính viễn thông đã giảm xuống cùng với việc giảm tính độc quyền, tăng tính cạnh tranh.

Tuy nhiên, vận tải trong nước vẫn còn chiếm thị phần nhỏ trong việc vận chuyển hàng xuất nhập khẩu; hiện đại hoá ngành đường sắt chậm (cả về khổ đường, đường đôi, điện khí hoá); chi phí vận tải còn cao; tai nạn giao thông vẫn nghiêm trọng - một nguyên nhân làm chết và bị thương nhiều người nhất hiện nay; giá bưu chính viễn thông vẫn còn cao, tình trạng nghẽn mạch còn nhiều...

Ngành có tỷ trọng lớn thứ tư là giáo dục - đào tạo. Đây là ngành phát triển khá nhanh về số lượng (từ số trường, số giáo viên, số học sinh, từ mẫu giáo, phổ thông đến đào tạo công nhân kỹ thuật, trung cấp, cao đẳng, đại học, sau đại học). Tuy nhiên, xã hội vẫn chưa yên tâm về ch t lượng giáo dục đào tạo (khi so với quốc tế, so với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đ t nước), xã hội hoá chậm; cơ cấu đào tạo vẫn tiếp tục "thừa thầy thiếu thợ"; cải cách liên tục nhưng vẫn chưa đạt yêu cầu...

Khách sạn, nhà hàng là ngành chiếm tỷ trọng lớn thứ năm trong khu vực dịch vụ. Đây cũng là ngành mới phát triển trong cơ chế thị trường và có vị thế khá trong khu vực dịch vụ, nhưng cần được phát triển hơn nữa về số lượng và nâng cao chất lượng để đón lượng khách quốc tế ngày một đông khi độ mở cửa rộng hơn và lượng khách du lịch trong nước ngày một nhiều khi thu nhập của người dân tăng lên; giá cả thuê phòng cũng còn cao so với một số nước trong khu vực.

Một số ngành dịch vụ có tính chất động lực như khoa học công nghệ, tài chính - tín dụng tỷ trọng còn rất thấp. Khoa học - công nghệ là động lực của phát triển nhưng chủ yếu vẫn từ nguồn ngân sách, thị trường khoa học công nghệ gần như chưa hình thành; việc gắn kết giữa nghiên cứu khoa học và ứng dụng vào sản xuất kinh doanh còn rất hạn chế, hiệu quả thấp; một số lĩnh vực xã hội cũng chưa được nghiên cứu làm rõ về thị trường khoa học - công nghệ, thị trường đất đai, tham nhũng chui từ đâu ra và làm thế nào để chống được tham nhũng; kinh tế thị trường nhưng lại có nhiều sân chơi khác nhau do các loại doanh nghiệp được điều chỉnh bằng các luật khác nhau... Nguồn tài chính vẫn còn eo hẹp và luôn luôn bội chi do thất thu còn lớn và lãng phí, thất thoát trong chi không nhỏ. Tiền tệ - tín dụng có tiến bộ nhưng vẫn còn tiềm ẩn những yếu tố không ổn định khi tỷ lệ nợ xấu còn cao, khi có một lượng vốn không nhỏ được huy động ngắn hạn để cho vay đầu tư trung, dài hạn...

Nếu chia toàn bộ khu vực dịch vụ thành 3 nhóm ngành: nhóm 1 là các ngành dịch vụ kinh doanh có tính chất thị trường, bao gồm: thương nghiệp, khách sạn nhà hàng, vận tải kho bãi thông tin liên lạc, tài chính tín dụng, các hoạt động liên quan đến tài sản và dịch vụ tư vấn, hoạt động phục vụ cá nhân và cộng đồng, hoạt động làm thuê công việc gia đình trong các hộ tư nhân. Nhóm 2 là các ngành dịch vụ sự nghiệp, bao gồm hoạt động khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo, y tế, hoạt động văn hoá thể thao, các hoạt động đoàn thể hiệp hội. Nhóm 3 là các ngành dịch vụ hành chính công, bao gồm quản lý Nhà nước, an ninh quốc phòng, bảo đảm xã hội bắt buộc, hoạt động của các tổ chức và đoàn thể quốc tế, thì tăng trưởng và sự đóng góp của từng nhóm ngành vào tốc độ chung của toàn khu vực dịch vụ như sau:

Nhóm dịch vụ kinh doanh chiếm tỷ trọng cao nhất và đóng góp lớn nhất vào tốc độ tăng chung của khu vực dịch vụ.

Nhóm dịch vụ kinh doanh chiếm tỷ trọng cao nhất và đóng góp lớn nhất vào tốc độ tăng chung của khu vực dịch vụ. Cùng với việc chuyển đổi cơ chế từ kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường, đã xuất hiện nhiều loại hoạt động dịch vụ mới mang đậm nét của nền kinh tế thị trường, có tỷ lệ giá trị tăng thêm cao, như các hoạt động dịch vụ tài chính, bảo hiểm, vận tải hàng không, đường biển, bưu chính viễn thông, du lịch, kinh doanh bất động sản, dịch vụ tư vấn, hỗ trợ xúc tiến đầu tư, sản xuất kinh doanh, tin học, pháp lý, tuyển chọn nhân sự, việc làm... nếu được quan tâm đúng mức sẽ có ảnh hưởng lớn đến tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Chính các ngành này phát triển sẽ đóng góp nhiều cho sự phát triển chung của nền kinh tế, nhất là thúc đẩy phát triển bền vững của những ngành thuộc khu vực công nghiệp - xây dựng.

Song, vì chưa nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của nhóm ngành này trong nền kinh tế thị trường, nên chưa khai thác, phát huy được khả năng và tiềm năng của chúng. Vốn đầu tư và chính sách của Nhà nước vẫn còn tập trung vào một số ngành dịch vụ truyền thống như thương mại, khách sạn nhà hàng, vận tải đường bộ... Đây là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến tăng trưởng của các ngành dịch vụ thị trường mới này.

Nhóm ngành dịch vụ sự nghiệp khoa học - công nghệ, văn hoá, y tế, giáo dục hiện vẫn chủ yếu do Nhà nước quản lý hoặc trực tiếp làm, hoặc nhận được nhiều sự trợ giúp của Nhà nước về kinh phí, về cơ chế chính sách, nên tốc độ tăng trưởng hàng năm phụ thuộc vào việc chi ra của ngân sách, chưa huy động tốt các nguồn lực xã hội.

Nhóm dịch vụ hành chính công đã đóng góp tích cực vào tốc độ tăng chung, nhờ tạo nên sự ổn định, cải thiện môi trường pháp luật... Sự tăng trưởng của ngành này cũng phụ thuộc vào nguồn ngân sách. Tuy nhiên, tiết kiệm chi tiêu hành chính công, chống lãng phí, thất thoát là chủ trương hoàn toàn đúng và còn phải tiếp tục làm riết róng hơn nữa, nhưng nếu đầu tư không tương xứng với vị trí và vai trò của nó, không bảo đảm điều kiện tối thiểu cho công việc điều hành, quản lý đất nước sẽ ảnh hưởng lớn đến công cuộc cải cách hành chính, trì trệ trong việc triển khai thực thi các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, kỷ cương phép nước dễ bị buông lỏng, lãng phí tham nhũng dễ gia tăng.

(Theo TBKTVN)

Last Updated ( Friday, 24 September 2004 )
 
< Prev   Next >
© 2008 MassoGroup